Nghiên cứu cây tạo trầm hương (END)

Mục lục

6.1 Giai đoạn ươm cây

Chọn đất làm vườn ươm cây con:

- Vị trí vườn ươm cây con phải được đặt ở những nơi cao ráo, thoáng mát, kín gió…

- Phải có đủ nguồn nước sạch để tưới và đất phải thoát nước tốt.

- Vườn ươm phải gần đường giao thông để thuận tiện cho việc chuyên chở.

- Đất phải giàu dinh dưỡng, thành phần cơ giới nhẹ (đất cát hoặc cát pha), pH 5-6.

Làm đất và thiết kế líp ươm:

- Đất làm vườn ươm cây con phải được cày bừa thật tơi xốp, sâu khoảng 25-30 cm và sạch cỏ dại.

- Lên líp ươm cao 15-20 cm so với mặt đất, chiều rộng 1m, chiều dài 10m, khoảng cách giữa 2 líp ươm từ 45-50 cm để tiện việc đi lại và chăm sóc.

- Hệ thống tưới-tiêu, đặc biệt là các mương thoát, phải bố trí một cách hợp lý và khoa học.

Xử lý đất và bón lót phân:

Trước khi gieo hạt 5-7 ngày, líp ươm phải được xử lý thuốc sát trùng và bón phân lót.

- Thuốc sát trùng có thể dùng dung dịch Bordeaux 1% hoặc dung dịch CuSO4 0.5% tưới điều lên mặt líp.

- Phân bón lót gồm: Phân chuồng hoại (10kg/10m2/líp), super Lân (300-500 gr/10m2/líp). Có thể thay thế super Lân bằng DAP hoặc N-P-K với liều lượng từ 150-200gr/10m2/líp.

** Chú ý:

 Phân bón lót phải được nghiền thành bột, rải đều lên mặt líp, sau đó dùng cuốc xới, để trộn thật đều phân lót và thuốc sát trùng vào lớp đất sâu khoảng 5-7cm. Mặt líp phải bằng phẳng và tơi nhuyễn, không cỏ dại.

Gieo hạt

Sau khi thu hoạch hạt phải gieo ngay. Nếu chưa gieo, phải bảo quản hạt trong cát ẩm theo tỉ lệ 2 phần cát một phần hạt (tính theo thể tích), để nơi thoáng mát, thường xuyên đảo hạt (tối thiểu 3 lần/ngày) và luôn giữ ẩm cho cát. Cách bảo quản này chỉ kéo dài trong khoảng từ 7-10 ngày, nếu kéo dài hơn thì tỉ lệ nảy mầm sẻ giảm.

Trước khi gieo nên xử lý hạt giống bằng cách ngâm hạt 3-4 giờ trong dung dịch thuốc tím có nồng độ 0,1%, sau đó rửa lại bằng nước sạch, nhặt hết hạt lép, thối rồi đem gieo.

Rải hạt đều trên mặt líp, hạt cách hạt khoảng 2cm (mật độ 200-250gr hạt/m2). Sau khi gieo rải một lớp cát dày 1cm để lấp hạt.

Trung bình 1kg hạt gieo được 4.500 - 6.000 cây con.

Làm giàn che cây con:

Tùy theo vật liệu sẵn có tại địa phương như rơm rạ, lá dừa …mà làm mái che cho vườn ươm cây con, nhưng phải bảo đảm độ che phủ từ 60 – 70% và chủ động được việc điều chỉnh ánh sáng khi cần thiết.

Tưới nước giữ ẩm sau gieo

Luôn luôn giữ ẩm cho mặt líp để hạt nảy mầm và cây con phát triển tốt trong suốt giai đoạn vườn ươm.

Khoảng 15 ngày sau gieo hạt bắt đầu nảy mầm. Sau gieo khoảng 30 – 40 ngày, cây con cao 6 – 8 cm có 2 – 4 lá là nhổ cây cấy vào bầu

7. Giai đoạn lên bầu 

Vỏ bầu:

Sử dụng bao nylon kích cỡ tối thiểu 9cm x 14cm để làm bầu đất cho cây con và phải đục lỗ để thoát nước. Không nên sử dụng vỏ bầu quá nhỏ có thể ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây con. Ngược lại, nếu vỏ bầu quá lớn sẽ tăng giá thành cây con cũng như khi vận chuyển sẽ gặp nhiều khó khăn.

Xử lý đất vô bầu (Ruột bầu):

Nên chọn những nơi có lớp đất mặt tơi xốp và giàu dinh dưỡng để làm đất bầu cây con. Trước tiên cần xới xáo đất cho thật tơi xốp, sau đó trộn đều 10-14% phân chuồng hoai, 1% super Lân (tính theo thể tích đất) và thuốc sát trùng như dung dịch bordeaux 1% hoặc CuSO4 0.5%. Cần chú ý là càng trộn đều phân bón vào đất bầu càng tốt. Một số nơi còn dùng hỗn hợp tro trấu với xơ dừa để làm đất bầu.

Thiết kế luống bầu:

- Luống bầu được thiết kế giống như líp ươm, chiều cao mặt luống so với mặt đất khoảng 15-20cm, ngang 1m, dài 10m, khoảng cách giữa 2 luống từ 45 – 50cm để tiện lợi cho việc đi lại chăm sóc. Trải PE lên mặt líp sau đó lấp một lớp đất dày từ 1-3cm với mục đích là ngăn không cho rễ cây con ăn sâu vào trong đất, tránh làm đứt rễ khi di dời bầu hoặc vận chuyển bầu ra trồng.

- Lượng đất vô bầu vừa phải không nên nén chặt.

- Bầu đất phải được đặt ngay ngắn theo từng hàng.

- Khoảng cách giữa các bầu tối thiểu 1cm.

- Xung quanh vườn bầu phải vét các mương thoát nước.

- Giàn che vườn bầu cũng giống như ở vườn ươm, tức là phải đảm bảo độ che phủ từ 50-60% và phải chủ động điều chỉnh ánh sáng khi cần thiết. Sau 8 tuần lễ kể từ khi cấy bầu tiến hành gỡ dần giàn che để huấn luyện cây con.

Cấy cây con vào bầu:

Trước khi cấy phải tưới nước cho bầu đất đủ ẩm. Đặt cây con phải ở giữa bầu đất, thân cây phải thẳng, rễ phải tiếp xúc với đất bầu. Không được cấy quá sâu hoặc quá cạn.

cây dó bầu non

                                     Hình 2.7: Cây Dó bầu trong vườn ươm

Tưới nước:

Thường xuyên kiểm tra và tưới nước giữ ẩm cho vườn bầu. Tùy vào điều kiện thời tiết, tuổi cây con mà ta điều chỉnh lượng nước tưới cho thích hợp.

Làm cỏ và bón thúc: 

Kết hợp nhổ cỏ, phá váng và bón phân cho cây con. Phân bón thúc có thể dùng DAP hoặc NPK với liều lượng 1kg/200 lít nước (0.5%), tưới đều lên luống bầu ( 50 gr/10 lít nước/ 10 m2)

Đảo bầu và thay bầu:

Giai đoạn cây con ở trong vườn bầu khá lâu, từ 6 tháng trở lên, nếu kích cỡ bầu đất quá nhỏ không đủ dinh dưỡng để cung cấp cho cây ở giai đoạn tiếp theo thì nên chuyển cây vào bầu lớn hơn.

Thông thường, trong quần thể cây con không có sự đồng đều về chiều cao cây, do đó khi tiến hành đảo bầu nên chọn cây nhỏ để riêng. Bằng cách này, chúng ta dễ chăm sóc và tạo cho vườn cây đồng đều hơn. Chú ý khi đảo bầu, nên đặt khoảng cách giữa các bầu thưa hơn lúc đầu, vì mật độ quá dày cây sẽ mọc vóng, nghĩa là thân cây cao nhưng đường kính thân nhỏ và ít rễ, khi đem ra trồng cây con kém thích nghi với điều kiện ngoại cảnh. Để tiết kiệm công lao động ta nên kết hợp việc đảo bầu với làm cỏ và phá váng cho cây bầu.

Phòng trừ sâu bệnh:

Đối với bệnh hại, vào mùa mưa cây con thường bị một số loại bệnh như thối đen thân, lở cổ rễ…Có thể dùng thuốc BAYPHYZAN liều lượng 3 – 4 ml/8 lít nước phun đều, mỗi lần phun cách nhau 15 – 20 ngày.

Đối với sâu cắn lá có thể bắt bằng tay kết hợp với phun thuốc theo định kỳ 20-30 ngày/lần.

8. GIAI ĐOẠN TRỒNG QUY MÔ LỚN:

a. Đất trồng:

Cây Dó bầu thích hợp trên nhiều loại đất khác nhau, trừ đất bị ngập úng, đất đá vôi hoặc đất bị nhiễm phèn nhiễm mặn. Tuy nhiên, trước khi trồng nên chọn đất có các điều kiện như sau:

- Đất trồng phải giàu dinh dưỡng, tầng đất mặt dày 30–50cm, pH đất 5–6

- Đất phải thoát nước tốt vào mùa mưa và đủ nước tưới vào mùa nắng (cho 2-3 năm đầu).

- Đất trồng phải gần đường giao thông để thuận tiện cho vận chuyển và chăm sóc.

b. Thời vụ trồng:

Thời điểm để trồng cây Dó bầu thích hợp nhất là vào đầu mùa mưa khi mật độ mưa tương đối đồng đều và đất đã đủ ẩm. Nên chọn những ngày có mưa nhỏ liên tục và thời tiết râm mát để trồng.

Không nên trồng quá muộn (giữa mùa mưa hoặc cuối mùa mưa), vào thời điểm này trong năm ẩm độ đất rất thích hợp để cây con phục hồi và phát triển nhưng do quá cận với mùa nắng, cây con chưa đủ sức để chống chịu với điều kiện khô hạn kéo dài trong suốt mùa nắng.

c. Yếu tố khí hậu:

Ánh sáng: Cây Dó bầu khi còn nhỏ rất thích hợp trong điều kiện râm mát. Ở giai đoạn vườn ươm, từ lúc nảy mầm đến 6 tháng tuổi cây con cần được che phủ ánh sáng từ 60-70%. Ở giai đoạn từ khi bắt đầu trồng đến khi cây được 2-3 năm tuổi, nếu được che bóng cây sẽ sinh trưởng và phát triển rất nhanh.

Nhiệt độ: Cây Dó bầu có thể sinh trưởng và phát triển tốt trong khoảng nhiệt độ từ 150-300C nhưng thích hợp nhất là từ 220C-290C.

Độ ẩm: Cây Dó bầu là loài cây ưa ẩm nhưng không chịu ngập úng. Ẩm độ thích hợp để cho cây phát triển là vào khoảng 80%. Khi còn nhỏ, khả năng chịu hạn của cây rất kém, nếu thiếu ẩm cây sẽ ngừng sinh trưởng hoặc chết. Việc duy trì ẩm độ cho cây vào mùa nắng là vô cùng quan trọng, nhất là cây ở giai đoạn 2-3 tuổi. Khi cây đã lớn, việc tưới nước cho cây là không cần thiết do bộ rễ đã ăn sâu vào trong đất để hấp thụ lượng nước sẵn có trong tự nhiên.

Lượng mưa: Khí hậu ở Việt Nam chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa chỉ tập trung trong khoảng 6 tháng nhưng quyết định lượng nước cung cấp cho cây trong cả năm.  Cây Dó bầu là loại cây chịu hạn kém, do đó lượng mưa nhiều hay ít đều có ảnh hưởng trực tiếp khả năng sinh trưởng và phát triển của cây.

Trong tự nhiên, cây Dó bầu chỉ phân bố tập trung ở những vùng có lượng mưa trung bình trong năm từ 1200mm trở lên. Lượng mưa hang năm có ảnh hưởng trên một khu vực rộng lớn, đây là một trong những yếu tố có tính quan trọng khi lựa chọn và xác định vùng trồng.

d. Yếu tố đất đai:

Có thể nói cây Dó bầu trồng được trên nhiều loại đất khác nhau ngoại trừ đất cát nghèo kiệt, đất đá vôi và đất bị ngập úng hoặc đất bị nhiễm phèn nhiễm mặn.Về mặt lý tính, đất trồng phải có kết cấu từ trung bình đến tốt, nghĩa là tầng đất mặt phải tơi xốp, khả năng dữ ẩm và thoát nước tốt, pH đất từ 5-6. Về thành phần dinh dưỡng, đất phải giàu chất hữu cơ và các chất vô cơ. 

Yếu tố đất đai không những có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Dó bầu mà nó còn liên quan đến quá trình hình thành trầm hương ở trên thân gỗ của cây Dó bầu. Theo ông Nguyễn Hồng Lam (Viện Đặc Sản Rừng) thì sự hình thành Trầm hương trong tự nhiên có liên quan đến loại đất, một số nhân tố lập địa như đá mẹ, tỷ lệ đá lẫn trong đất, độ dốc…

Một số kết quả nghiên cứu cho thấy, trong tự nhiên loại đất Feralit nâu vàng phát triển trên phiến sa thạch số cây có Trầm và mức độ hình thành Trầm đạt tiêu chuẩn thương mại cao hơn số cây phân bố trên loại đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá mẹ Granit.

Thường những cây phân bố ở điều kiện lập địa có độ dốc lớn, tỷ lệ đá lẫn trong đất nhiều thì sản lượng Trầm khai thác được lớn, chất lượng Trầm cao và ngược lại.

Trong thực tế, sản lượng cũng như chất lượng Trầm hương thu được từ cây Dó bầu có sự khác nhau giữa các địa phương. Ở Việt Nam, sản lượng và chất lượng Trầm hương của các tỉnh Miền Trung luôn cao hơn những nơi khác. Đặc biệt ở tỉnh Khánh Hòa với địa danh nổi tiếng nhất từ trước đến nay là vùng Vạn Giã- Vạn Ninh, đây là nơi có loại Trầm hương, Kỳ nam tốt nhất thế giới.

 Đó là sự khác biệt về địa lý của Trầm hương trong tự nhiên. Còn về Trầm hương nhân tạo thì cho đến nay các nhà khoa học chưa có kết luận gì về mối liên quan giữa chất lượng Trầm và các yếu tố địa lý.

e. Cây Dó bầu bị chết do thối rễ:

Đặc điểm của cây Dó bầu bị chết:

-Cây có độ tuổi khoảng từ 4 năm trở lên mới bị

-Thường xảy ra vào đầu và cuối mùa mưa

-Tiến trình xảy ra rất là nhanh, từ khi nhận thấy lá cây bị ủ rũ (“buồn buồn’) thì trong vòng một tuần lễ là cây chết.

-Vùng thân cây cách mặt đất khoảng 15 cm bị mục, chỉ cần xô nhẹ là đổ ngang

-Bộ rể bị thối

Các tỉnh như: Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai đã xảy hiện tượng cây Dó bầu trưởng thành bị chết rất nhiều.cây dó bầu bị chết

Hình 2.8: Cây Dó bầu bị chết do thối rễ

9. TÌNH HÌNH TRỒNG VÀ PHÁT TRIỂN TRONG NƯỚC

Đã từ lâu chất lượng Trầm hương của Việt Nam nổi tiếng trên thế giới, đây là loại Trầm được hình thành từ thân gỗ của cây Dó bầu (Aquilaria Crassna Pierre ex Lecomte) vốn chỉ có ở Việt Nam và Campuchia. Trầm hương Việt Nam được thị trường thế giới ưa chuộng và mua với giá rất cao trong khi đó nguồn khai thác Trầm hương trong tự nhiên đã cạn kiệt.

Kỹ thuật cấy tạo Trầm nhân tạo ngày nay đã trở nên phổ biến với chất lượng không thua kém Trầm trong tự nhiên nhưng với thời gian nhanh hơn (cây Dó bầu chỉ sau trồng từ 6-7 năm là có thể cấy tạo Trầm và sau thời gian từ 24-36 tháng kể từ khi cấy hóa chất là khai thác Trầm).

Mặt khác, điều kiện tự nhiên của Việt Nam rất thích hợp để cây Dó bầu sinh trưởng và phát triển.

Những nguyên nhân trên đã làm động lực thúc đẩy cho sự phát triển vườn Dó bầu ở Việt Nam.

Ngày nay nhiều nông dân ở Việt Nam đã làm giàu nhờ vào việc trồng và cấy tạo Trầm hương trên cây Dó bầu (trung bình, lợi nhuận thu được từ 50-150triệu/ ha/năm).

Việc nhân giống cây Dó bầu để bán cũng đã mang lợi nhuận rất cao cho nhiều nông dân (Có thời điểm giá một cây Dó bầu giống lên lên đến 25.000 đồng).

Theo số liệu thống kê của “Hội Trầm hương Việt Nam” tính đến cuối năm 2004 có khoảng 22 tỉnh trong cả nước đã trồng cây Dó bầu với diện tích trên 7000 hecta trong đó diện tích có thể khai thác Trầm hương vào khoảng 190 hecta.

Ở phía Bắc, một số tỉnh như Thái Nguyên, Phú Thọ…vừa bắt đầu trồng trong năm 2004 do đó diện tích chưa cao. 

Các tỉnh Miền Trung từ Hà Tĩnh cho đến Khánh Hòa đã trồng trên 3.240 hecta, trong đó nhiều nhất là Hà Tĩnh (840 hecta), Quảng Bình (740 hecta), kế đến là Quảng Nam (425 hecta), và còn lại các tỉnh khác. 

Tây Nguyên tổng diện tích trồng khoảng 1.700 hecta bao gồm các tỉnh KonTum (325 hecta), Gia Lai (225 hecta), Đăklăk (615 hecta), ĐăkNông (226 hecta) và Lâm Đồng (265 hecta).

Các tỉnh Miền Đông Nam Bộ trồng khoảng 1.743 hecta bao gồm Đồng Nai (345 hecta), Tây Ninh (218 hecta), Bình Dương (230 hecta), và nhiều nhất là Bình Phước (950 hecta).

Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long gồm hai tỉnh An Giang và Kiên Giang (kể cả đảo Phú Quốc) với diện tích trồng khoảng 387 hecta.

Theo ước tính, đến 2010 diện trồng Dó bầu trên cả nước vào khoảng 30.000 hecta, trung bình hàng năm diện tích tăng từ 2.500-4.000 hecta

Chương 3: Tổng quan về cây trầm hương và phương pháp cấy tạo trầm

1 Đặt tính và công dụng của trầm hương

a. Trầm hương và sự tạo trầm

Mặc dầu số lượng cá thể các loài Aquilaria spp cũng như nguồn cung cấp đã bị cạn kiệt, nhưng nhu cầu về Trầm hương trong nền thương mại thế giới lại gia tăng đáng kể. Hiện nay các nước tiêu thụ Trầm hương mạnh là Trung Cận Đông và Châu Á, và ngay cả ở Mỹ và Châu Âu (TRP, 1997).

Theo Vũ Văn Cần và Vũ Văn Dũng (1978) có thể phân loại nguồn gốc hai loại Trầm sinh (Trầm lấy từ cây sống) và Trầm rục (Trầm lấy từ cây đốn hay cây chết đổ lâu ngày). Trầm sinh từ cây còn sống thường có hai màu sáng. Ngược lại Trầm rục thì thường có màu cánh dán, hay đen xỉ. Thường người ta lấy Trầm rục từ gốc hoặc rễ. Giá Trầm sinh thường cao hơn Trầm rục từ 2-3 lần và trên mỗi cây có Trầm có thể thu hoạch được từ 5-10kg Trầm. Ngoài ra phần xung quanh khối Trầm Kỳ cũng bị biến đổi ít nhiều với sự                       Hình 3.1: Trầm hương              xuất hiện của các chỉ Trầm xen kẽ với gỗ thường gọi là Tóc trong tiếng Khmer. Tóc khi cháy cho mùi hương thơm và được dùng làm Nhang Trầm. Theo Phillips (1997), các dạng Trầm và sản phẩm của Trầm được ghi nhận trên thị trường là: Trầm mảnh, Trầm bóng, Trầm vụn và bột Trầm, Trầm bánh, tinh dầu Trầm (dùng làm hương liệu và dược liệu). Việc phân tích Trầm và tinh dầu Trầm đã được Erhartdt, Lê Công Thuân và Hopwood (1997) thực hiện bằng phương pháp sắc ký khí kết hợp với khối phổ (Gas Chromatography/Mass Spectrometry). Ghi nhận có hai sesquiterpen tồn tại phổ biến trong gỗ cũng như trong tinh dầu, đó là(+)-Aromadendrene và -Selinene. Tuy nhiên, slinene không xuất hiện trong mẫu Trầm chất lượng thấp. Ngoài ra, Guaiene, một Sesquiterpene khác có trong mẫu gỗ Trầm tự nhiên nhưng chỉ gặp trong mẫu tinh dầu, trong khi Guriunene, một đồng phân của Aromadendrene có nhiều trong các mẫu tinh dầu nhưng không thấy trong mẫu gỗ tự nhiên. 

Cho đến năm 2004 có một vài công trình nghiên cứu về sự tạo Trầm, tuy nhiên, việc vận dụng các hiểu biết một cách chắc chắn về cơ chế tạo Trầm để sản xuất Trầm một cách bền vững vẫn đang là thử thách đối với các nhà khoa học. Lý do là cho đến nay, chưa có thực nghiệm hoàn chỉnh nào, mặc dù có rải rác vài công trình đã được tiến hành trên những cây Dó bầu còn non trồng trong môi trường được kiểm soát. Theo Phạm Hoàng Hộ (1985) Dó bầu có Trầm là cây Dó bầu bị bệnh. Nguồn gốc bị bệnh đó chỉ mới được biết trong những năm gần đây. Khảo sát của Julaluddin (1977) cho rằng vùng Tóc Trầm chứa một loại nấm được xác định là Cryptosphaeria mangifera. Ông đã xác định bằng cách cho những cây Dó bầu lành mạnh nhiễm nấm. Sau một thời gian, vùng bị nhiễm trở nên sẫm màu và trở thành Tóc rõ rệt và khi đốt cũng tỏa mùi Trầm rõ rệt. Tuy nhiên đó chỉ là những tín hiệu bước đầu của sự hình thành Trầm. Việc nghiên cứu này còn quá ngắn để đến giai đoạn Trầm Kỳ. Đến nay đã xác định được nấm Cytosphaera mangiferae có ở Trầm của loài A. malaccensis và nấm Melanotus flavolives chứa trong khối Trầm từ loài A. sinensis.

Trầm có thể xuất hiện trên cây Dó bầu đã to hay còn nhỏ. Trong thực tế, có nhiều cây Dó bầu đã to, với đường kính 50-60cm đã có Trầm. Ngược lại, có những cây Dó bầu đường kính mới chỉ có 15cm đã có Trầm. Các thí nghiệm gần đây cho thấy có thể kích thích tạo Trầm ở những cây Dó bầu trồng ở 4-5 năm tuổi. Tuy nhiên, trên những cây Dó bầu to, già cỗi Trầm xuất hiện nhiều hơn. Theo kinh nghiệm dân gian, có thể phân biệt cây đã có Trầm qua một số đặc điểm hình thái của cây và điều kiện hoàn cảnh nơi mọc như sau:

Cây đã lớn đường kính trên 20cm.

Thân cành có u bướu, cây nhiều mắt, cây bị bệnh hoặc bị thương.

Lá cằn cỗi, màu xanh vàng.

Vỏ khó bóc hơn những cây bình thường.

Gỗ màu vàng.

Cây mọc trên đất xấu nhiều sỏi đá.

Trong cây Trầm hương xuất hiện ở ba nơi: rễ, gốc, đoạn thân, cành ở độ cao trên 60cm so với mặt đất rất hiếm khi có Trầm hương. Phần nhiều Trầm hương nằm nhiều ở quanh gốc, nhất là ở rễ. Chính vì thế, khi tìm Trầm hương, rễ mọc tới đâu phải đào tới đó. Người tìm Trầm không sợ bị rắn rết cắn vì họ tin rằng khi có Trầm thì rắn rết đã bị đuổi đi hết. Ở Ba Rền (Bình Trị Thiên) đôi khi người ta chặt cành để cho Trầm hình thành thấp.

Gần đây, nhóm nghiên cứu Rừng Mưa Nhiệt Đới Châu Âu kết hợp với trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên và hai tỉnh Kiên Giang và An Giang đã tiến hành một chương trình nghiên cứu nhằm gây tạo Trầm hương trên cây Dó bầu trồng từ hạt ở Phú Quốc.

Huỳnh Văn Mỹ (1997) cho biết ở Tiên Phước (Quảng Nam), nông dân đã đã tự nghiên cứu xử lý kỹ thuật tạo Trầm trên cây Dó bầu từ 10 năm tuổi trở lên kết Trầm theo ý muốn. Đây là một trong những vấn đề mà các nhà khoa học cần nghiên cứu, tổng kết, đánh giá và nhân rộng.

b. Tính chất của trầm hương và kỳ nam

Kỳ Nam Trầm Hương

- Chất nhẹ, mềm, dẻo và nhuyễn. Khi nếm có đủ vị cay, ngọt, đắng

- Có 3 màu chính: trắng ngà, xanh và xám, vàng và đen chàm

- Cho nhiều dầu, khi đốt lên rất thơm và có khói xanh. Khói kỳ bay thẳng lên không trung và dài.

- Chất năng, vị đắng, màu mun hoặc đỏ với trầm loại 1, dễ cháy, trầm ít dầu loại 2,3,4 có màu vàng, màu xám nâu và màu nâu socola.

- Màu của trầm có nhiều màu trải dài từ màu vàng sậm lên đen, phụ thuộc vào lượng tinh dầu chứa trong gỗ. Hàng loại 1 chìm nước có màu đen hoặc đỏ đen.

- Cho ít dầu hơn kỳ nam, khi đốt khói trầm có màu trắng, bay thẳng lên rồi tan nhanh.

- Có 4 loại kỳ : Bạch kỳ, Thanh kỳ, Huỳnh Kỳ và Hắc kỳ ( trong đó bạch kỳ là hiếm và quý giá nhất) - Có nhiều loại : phân cấp theo cấp độ trầm loại 1 ,2,3 và 4

Nguồn:  Trầm Hương Việt Nam

Bạn đang xem tại website Tramhuongviet.com .Cảm ơn Quý khách hàng luôn quan tâm và theo dõi Trầm Hương Việt

Bình luận

0 bình luận cho Nghiên cứu cây tạo trầm hương (END)

Nội dung bình luận
Họ và tên
Số điện thoại